Bài vị Cửu huyển thất tổ có nghĩa là 9 đời trong thế hệ một gia đình hay nói cách khác chính là thờ phụng tổ tiên vì thế Thờ cúng “Cửu Huyền Thất Tổ” là tỏ lòng kính trọng với tổ tiên các bậc tiền nhân đã sinh dưỡng, dạy dỗ, dạy cách làm ăn, dạy hành động, cử chỉ sao cho tốt đẹp, hợp đạo lý, hay nói cách khác là thờ cúng cái nguồn gốc phàm trần của xác thân.

Cửu huyển thất tổ có nghĩa là 9 đời trong thế hệ một gia đình hay nói cách khác chính là thờ phụng tổ tiên vì thế Thờ cúng “Cửu Huyền Thất Tổ” là tỏ lòng kính trọng với tổ tiên các bậc tiền nhân đã sinh dưỡng, dạy dỗ, dạy cách làm ăn, dạy hành động, cử chỉ sao cho tốt đẹp, hợp đạo lý, hay nói cách khác là thờ cúng cái nguồn gốc phàm trần của xác thân.

Ý nghĩa bài vị Cửu huyền Thất tổ

Cửu Huyền: Nghĩa là 9 đời hay 9 thế hệ gồm có:
1. Cao Tổ: Ông sơ
2. Tằng tổ: Ông cố
3. Tổ phụ: Ông nội
4. Phụ: Cha
5. Bản thân
6. Tử: Con trai
7. Tôn: Cháu nội
8. Tằng tôn: Chắt (cháu cố)
9. Huyền tôn: Chít (cháu sơ)
Thất tổ gồm
7. Thỉ Tổ (Tỷ Khảo) : Thất Tổ
6. Viễn Tổ (Tỷ Khảo) : Lục Tổ
5. Tiên Tổ (Tỷ Khảo) : Ngũ Tổ
4. Cao Tổ (Tỷ Khảo) : Tứ Tổ
3. Tằng Tổ (Tỷ Khảo) : Tam Tổ
2. Nội Tổ (Tỷ Khảo) : Nhị Tổ
1. Phụ thân (Tỷ Khảo) : Nhứt Tổ

1. Truyền thống ở Việt Nam chúng ta thường thờ cúng Cửu huyền, còn Thất tổ thì dành cho vua chúa mới được thờ phụng.
2. Cửu huyền tính từ bản thân mình làm cột mốc, trên chúng ta là ba thế hệ, bản thân (ta) và dưới là bốn thế hệ. Chúng ta thờ ba thế hệ trên ta là đương nhiên, nhưng tại sao lại phải thờ thêm cả ta và bốn thế hệ dưới?
Bởi vì, cuộc sống  chính là một chuỗi các móc xích tương quan với nhau và nó trùng trùng duyên khởi.Thờ phụng ba thế hệ ở trên là thờ phụng những người đã có công sinh thành, dưỡng dục cho chúng ta nên người.
Thờ phụng năm thế hệ sau trong đó có cả ta: là để nhắc nhở rằng kiếp này phải làm những điều thiện và tin luật nhân quả 3 đời gồm: quá khứ – hiện tại – tương lai có mối tương quan với nhau. Trong dân gian có những câu nói về luật nhân quả như: “Nhứt nhơn tác phước thiên nhơn hưởng, độc thọ khai hoa vạn thọ hương”  hoặc câu: “Đời cha ăn mặn, đời con uống nước”…
3. Bàn thờ “Cửu huyền thất tổ” gồm có:

Bài vị ở giữa ghi chữ 九玄七祖  dịch ra Cửu huyền thất tổ
Đôi liễn thể hiện Kính bái đức độ của Cửu Huyền đó ơn cao trọng và bên phải thể hiện sự Tôn trọng công xây dựng tổ nghiệp của Thất Tổ là nghĩa cao sâu.
Thực tế thì ít gia đình lập bàn thờ “Cửu huyền thất tổ” riêng mà hay để chung một bàn thờ, và chưa chắc nhiều người có thể hiểu được “ngọn nguồn”  của Cửu huyền thất tổ mà chỉ hiểu chung là nhớ ơn Tổ tiên. Cốt ở tấm lòng !

NGÀY TẾT, VÁI LẠY “CỬU HUYỀN THẤT TỔ” LÀ VÁI LẠY AI?
I.- Thực trạng hiện nay
Hiện nay, ở miền nam rất nhiều gia đình nằm trong nhóm theo Đạo “thờ cúng ông bà”, đạo Phật, đạo Cao Đài , thường hay treo bộ “Liễn thờ”, lộng kiếng, nằm ở bên trong phía sau bàn thờ tổ tiên dựa lưng vào tấm vách lòng giữa nhà để quay mặt nhìn thẳng ra phía sân trước. Trong  bộ khung “liễn thờ” này có 4 đại tự bằng chữ Hán, dịch ra là “Cửu Huyền Thất Tổ” , được viết nghiêm trang, chỉnh tề theo chiều dọc.

Bộ liễn thờ không biết được làm ra từ đâu và cũng rất ít người hiểu hết được ý nghĩa của liễn thờ này, nhưng nó được bán tràn lan trên chiếc xe ba bánh, xe hai bánh hoặc xuồng ghe để bán lẻ. Thường mua nhiều vào thời điểm gần Tết Nguyên Đán. Mọi người truyền tai nhau rằng đêm 30 tết cúng rước ông bà vào nhà và chiều mùng 3 tết cúng tiễn ông bà đi. Khi tiến hành nghi thức thì lại bảo vái lạy tổ tiên hoặc vái lạy Cửu Huyền Thất Tổ nhưng đâu ai biết rõ cội nguồn của Cửu Huyền Thất Tổ là gì là gồm những ai.
II.- TRA CỨU VỀ NGHĨA CỦA “CỬU HUYỀN THẤT TỔ”
Như đã nói ở trên  Cửu Huyền Thất Tổ gồm:

Cửu Huyền: Nghĩa là 9 đời hay 9 thế hệ gồm có:
1. Cao Tổ: Ông sơ
2. Tằng tổ: Ông cố
3. Tổ phụ: Ông nội
4. Phụ: Cha
5. Bản thân
6. Tử: Con trai
7. Tôn: Cháu nội
8. Tằng tôn: Chắt (cháu cố)
9. Huyền tôn: Chít (cháu sơ)
Thất tổ gồm
7. Thỉ Tổ (Tỷ Khảo) : Thất Tổ
6. Viễn Tổ (Tỷ Khảo) : Lục Tổ
5. Tiên Tổ (Tỷ Khảo) : Ngũ Tổ
4. Cao Tổ (Tỷ Khảo) : Tứ Tổ
3. Tằng Tổ (Tỷ Khảo) : Tam Tổ
2. Nội Tổ (Tỷ Khảo) : Nhị Tổ
1. Phụ thân (Tỷ Khảo) : Nhứt Tổ

III.- SỰ XUẤT HIỆN THUẬT NGỮ “CỬU HUYỀN”
A.- Xin bắt đầu câu chuyện từ Lão Tử, ông là một triết gia ở thời Xuân Thu ở Trung Quốc cổ đại, ông là tổ sư của trường phái Đạo gia ông lớn hơn Khổng Tử khoảng 20 tuổi, ông cũng là một trong những nhân vật được tôn thờ của đạo Cao Đài ngày nay và song song với Khổng Tử , Phật Thích Ca …. Theo Lão tử, siêu việt có trước vạn hữu xung quanh ta hiện nay, nó là một thực thể rất linh diệu , nhiệm mầu không nghe được, không nhìn thấy được, không diễn tả được ; nếu kêu lên và đặt tên được cho nó thì không còn là nó nữa nên tạm gọi là Đạo. Tuy nhiên, đây chỉ là một quan điểm triết học mang tính duy tâm của Lão tử về thế giới với quan điểm Đạo như là một trong những yếu tố đầu tiên khởi sáng ra vũ trụ và con người . Nhưng khi sang thời Chiến Quốc, lợi dụng tình hình chiến tranh, loạn lạc liên miên bất tận khiến nhân dân khắp nơi đều chán ngán thế sự nhân sinh, một số kẻ cơ hội chủ nghĩa và cơ trí, gọi là các phương sĩ, giải thích cái thực thể “huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn” của Lão Tử theo hướng thần tiên hóa; với giai cấp vua chúa chuyên gây ra chiến tranh mong cầu thôn tính và xa hoa dâm dật bấy giờ lại bịa đặt ra rằng có thể tìm tới xứ thần tiên để xin thuốc trường sinh bất tử nhằm kéo dài sự khoái lạc vật chất trên đời. Cái quan điểm này đượckéo dài tới tận thời Tần Thỉ Hoàng (221tr.cn -206 tr.cn), qua đến thời Tây Hán (206 tr.cn -8cn) không những không chấm dứt quan điểm này mà còn phát triển hơn nữa với nhiều biến tướng khác nhau.

Sang thời Đông Hán (25-220), Trung Quốc vẫn tiếp diễn tình trạng rối loạn không ngừng. Lúc bấy giờ có một người xưng là Trương Lỗ, con của Trương Hoành, cháu của Trương Lăng, kế thừa thành quả của cha ông , đã duy trì và biến cải sau đó lập ra Đạo “ngũ đấu mễ” cách tân nghĩa là ai gia nhập thì phải nộp “5 đấu gạo” để chiêu nạp binh sĩ – tín đồ, khi đã chiếm được vùng Hán Trung rồi thì dựng lấy một nước riêng cho mình ở đó. Bấy giờ ông buộc các giáo đồ – binh sĩ phải học tư tưởng về Đạo của Lão tử theo hướng tiếp tục bị thần tiên hóa và trường sinh hóa sau khi mà  Lão tử được tôn thành thần , và được gọi là “Thái Thượng Lão Quân”. Như vậy, đến thời kỳ này Đạo gia đã biến thành Đạo giáo và Đạo giáo kết hợp với chính trị một cách nhuần nhuyễn.

B.- Tới thời Lưỡng Tấn (265-589), Đạo giáo bám sâu hơn và mở rộng ra khắp nơi. Bấy giờ có một người tự xưn là Cát Hồng( 283-363), lấy hiệu là Bao Phác Tử đã lập ra Đạo “Kim Đan” bằng phương pháp kết hợp đạo Phật và Đạo giáo với nhau, mang mục đích vừa dưỡng sinh , vừa tu tiên ; và chỉ dung cho giai cấp quý tộc cầm quyền giàu có. Bên cạnh đó, đối với gia cấp bị trị, ông này cổ súy, kết hợp “ngoài Nho trong Đạo”để trị quốc an dân. Và trong nhiều kinh sách của Cát Hồng, đã xuất hiện từ Cửu Huyền bên trong.
Ví dụ có câu sau đây: “Cửu thiên chân nữ ngự phi phượng , bạch loan, du ư cửu huyền chi thượng”

C.- Ngoài ra cũng căn cứ quyển Hán Ngữ Đại Từ Điển, do La Trúc Phong chủ biên, thì Cửu Huyền thực chất chỉ là một thuật ngữ của Đạo “Kim Đan”, mang nghĩa là “chốn tiên”. Tuy nhiên, lúc bấy giờ đạo “Kim Đan” của Cát Hồng , và từ  Cửu Huyền bên trong , chỉ xuất hiện ở phía Bắc nước Trung Quốc. Nhưng  sau đó, tại nước Bắc Ngụy (398-535) , tên là Khấu Liêm Chi, tự cho là được Thái Thượng Lão Quân truyền cho quyển “Vân Trung Âm Tụng Tân Khoa Chi Giới” và phong chức vị Thiên Sư để chỉnh đốn và thống nhất lại Đạo giáo. Khi nghe vậy , Tể Tướng nước Bắc Ngụy “tài trợ”ông ta và phong làm Quốc Sư. Từ đây, phía Bắc Trung Quốc Đạo giáo càng thịnh hành, và được gọi là Bắc Thiên Sư đạo , tồn tại song song với Kim Đan đạo .

D.- Lúc đó, ở Nam Triều thời của nước Tống (420-589), có một đạo sĩ xưng là Lục Tu Tỉnh có ý định kết hợp Bắc Thiên Sư đạo với Kim Đan đạo thành  một. Ông cho rằng Phật giáo và Đạo giáo dù có đường lối tu hành khác nhau nhưng cùng chung một mục đích . Ông lấy nghi thức tu hành của Phật giáo cải tiến đi chút ít rồi đem ứng dụng vào Đạo giáo của ông, và gọi là Nam Thiên Sư đạo. Đạo Nam Thiên Sư được vua chúa Trung Quốc bấy giờ rất trọng dụng . Đến nỗi, đến đời Đường (618-907), có một vị hoàng đế tự cho rằng mình là con của Lão Tử. Còn có vị khác mê tín thuốc tiên để trường sinh bất tử đã uống linh đan vào sau đó ngã lăn ra chết vì ngộ độc.
Sang đến đời Tống (960-1279), vua Tống Chân Tông suy tôn choLão Tử lên là “Thái Thượng Hỗn Nguyên Hoàng Đế”.

IV.- SỰ XUẤT HIỆN THUẬT NGỮ “CỬU HUYỀN THẤT TỔ”
A.- Nguyên nhân tổng hợp hai thuật ngữ
Đến thời Lý – Trần của nước ta(1010-1400) thì bên Trung Quốc xuất hiện một đạo sĩ , xưng là Vương Trùng Dương, đã tự lập ra đạo Toàn Chân dựa trên cơ sở Đạo giáo đương thời nhưng ông lại không còn chú trọng đến yếu tố thần tiên, cải tử hoàn sinh phù phép và luyện linh đan nữa. Tư tưởng trọng tâm của Đạo này là tam giáo hợp nhất:“Nho môn,Thích hộ, Đạo tương thông Tam giáo tòng lai nhất tổ phong”.
Kể từ đây, Vương Trùng Dương lấy Tâm Kinh của Phật giáo; Hiếu Kinh của Nho giáo; Đạo Đức Kinh của Lão Tử để dạy cho tín đồ tu hành của mình. Vì thế, kể từ đây, ta không thể không khẳng định rằng thuật ngữ Cửu Huyền của Đạo giáo trước kia không thể không đậm thêm lần nữa tư tưởng của Phật Giáo và của Nho giáo bên trong của Phật giáo , chỉ khi về một cõi “siêu thế gian” nào đó , nơi mà bất cứ ai cũng phải “tử quy”, thì cũng không thể khẳng định được rằng không bị ảnh hưởng chút ít tư tưởng thần tiên siêu thoát của Đạo giáo.

Cái sự này thể hiện rõ trong ngôn từ của nhân dân ta hiện nay: “Quy Tiên”, “nhập Niết Bàn”, “trực vãng Tây Phương”, “chầu Trời”… đều là những khái niệm với nghĩa tương đồng ứng với tình trạng đã chết của một chủ thể nào đó. Vì vào lúc bấy giờ,các vua nhà Lý nước ta chính thức “nhập khẩu”Đạo nho của Trung Quốc và  lập miếu thờ các vị tổ sư của Đạo Nho (đến thời các vua Trần vẫn tiếp nối).
Theo ý kiến của riêng tôi Cửu Huyền Thất Tổ là một dạng hợp nhất về ngôn ngữ.Vì , ta thấy rằng Cửu Huyền là từ bắt nguồn từ Đạo giáo xưa kia; có vào thời của Cát Hồng. Còn “Thất Tổ” lại là ngôn từ của Nho gia. Ý nghĩa của nó là “thất đại tổ tiên” (bảy đời tổ tiên). Như vậy câu hỏi đặt ra là: sự hợp nhất hai từ Cửu Huyền Thất Tổ này có từ lúc nào? Và có ý nghĩa gì?

B.- Thời điểm xuất hiện thuật ngữ “Cửu Huyền Thất Tổ” :-
Theo lịch sử Trung Quốc thì cuối đời nhà Đường(618-907) nội chiến xảy ra khắp nơi. Phía Bắc Trung Quốc, từ năm 907-960, có 5 triều đại thay nhau cầm quyền. Còn phía Nam, có 10 triều đại lên cầm quyền trong số đó có một triều đại là Tiền Thục.
Lúc ấy, ở thời Tiền Thục này có một Đạo sĩ khá nổi tiếng là Đỗ Quang Đình. Ông đã viết một quyển kinh đạo, có tựa đề là “Trung Nguyên chúng tu kim lục trai từ”. Trong đó có một câu:

“Thần đẳng Cửu Huyền Thất Tổ thụ phúc chư thiên di tộ lưu tường truyền hưu vô cực”. Nôm na là: Cửu Huyền Thất Tổ của chúng thần ,thụ phúc từ Chư Thiên, lưu giữ và truyền tiếp không ngưng nghỉ sự thụ phúc ấy đến vô cực cháu con”.
Như vậy, chậm lắm là đến thời Tiền Thục(907-925), từ Cửu Huyền Thất Tổ ra đời và được các đạo sĩ rất hay dùng trong việc “chuyện trò” tại các buổi tụng cầu cúng đấng “Chư Thiên”. Dù mang hương vị của Đạo giáo, nhưng nó lại phản ánh nội dung của đối tượng rất trần thế đó là các đời tổ tiên của một chủ thể nhất định . Tới đây cần làm rõ vấn đề tại sao lại kết hợp Cửu Huyền với “Thất Tổ” mà sao không phải với “ lục tổ” hay “ngũ tổ” Theo tôi thì sự thần tiên hóa Đạo gia đã tạo thành Đạo giáo, với nhiều biến thể khác nhau. Mà Đạo gia thì có sau Nho gia. Chữ “cửu” trong từ “cửu huyền”, không mang nghĩa là con số 9 của số học. Không thể hiểu nó theo kiểu “chín huyền thể ” được. Mà phải hiểu “Cửu” là sự “tối tột”. Ngoài việc có ý nghĩa là con số 9 của số học ra , nó còn là một khái niệm chỉ sự “tuyệt cực ”trong Dịch học, một kiểu loại ngôn ngữ đặc biệt , xuất hiện vào tận thời Phục Hy bên Tàu (4477-4363 tr.CN). Cụ thể hơn, trong Dịch học, số 9 (Cửu) đúng là con số mang ý nghĩa thái dương (nghịch ngược với thái âm).

Và, một khi như thế, khi dùng Cửu Huyền như một đơn vị từ tố kép , có giá trị cấu tạo ra cái tổ hợp mà chúng ta đang bàn, thì người ta hồi ấy không thể không dùng con số 7 (thất) với 2 lý do nội tại cơ bản như sau: Một, để cho phù hợp về tư duy đăng đối trong thiết kế câu từ vốn có ở người Trung Quốc xưa. Hai, quan trọng hơn, 7 vẫn là con số của Dịch học, chỉ tình trạng “dương tính tuyệt cực” đứng sau con số 9 (Cửu) đã dùng ở trên rồi . (Trong Dịch học, nó là số Thiếu Dương).
Như vậy, theo đó, Cửu Huyền Thất Tổ chỉ có nghĩa là vô lượng Tổ Tiên Ông Bà đã chết trong quá khứ của mình .
Đây là nội dung nghĩa mà kinh cầu siêu của Phật giáo Việt Nam ngày nay vẫn đang còn dùng. Nói cụ thể hơn, hiện nay, khi có một vị thầy cúng theo Phật giáo nào đó mà đi tụng kinh dẫn dài theo một đám đưa ma nào đó thì bao giờ cũng có một đoạn văn sau đây: “…Cửu Huyền Thất Tổ trực vãng Tây Phương”. “Tây Phương” , trong giáo lý nhà Phật hiện nay, tương tự như “thiên không tối cao xứ” hay “bồng lai tiên cảnh”… của Đạo giáo. Còn “Trực vãng” là “siêu khuất thẳng về”. Có nghĩa rằng, trong đoạn kinh trên, Cửu Huyền Thất Tổ vẫn chỉ là một tổ hợp từ trỏ chung những ông bà “đã chết” của mình.

V.- KẾT LUẬN :-

Tóm lại, Cửu Huyền Thất Tổ , vào thuở ban sơ, là một tổ hợp từ do Đạo giáo chế tác bằng cách vay mượn từ ngữ Thất Tổ của Đạo Nho kết hợp vào từ ngữ Cửu Huyền vốn từng có trước đó trong Đạo của mình. Khi đã trở thành thuật ngữ mới, đương nhiên là nó phải mang nội dung nghĩa đầu tiên theo quan điểm của Đạo giáo. Sau đó, trong hoàn cảnh tam giáo hợp nhất xảy ra, Đạo Phật đã mượn lại tổ hợp từ này từ Đạo giáo. Riêng bản thân Nho giáo thì có vẻ đã chưa từng mượn tổ hợp từ này trong sinh hoạt tế tự nội bộ của mình nhưng lại mượn một điều đặc biệt hơn,quan trọng hơn. Đó là thế giới tâm linh trong tư tưởng của nhà Phật và thế giới siêu thoát thế gian trong tư tưởng của Đạo giáo. Hay nói cách khác, khi Tam Giáo Hợp Nhất , Đạo Nho bấy giờ cũng như cái vỏ ốc tư duy hóa thạch đang hồi thô ráp rỗng ruột được đổ đầy vào đó tinh thần từ bi bác ái của nhà Phật cùng tinh thần phóng khoáng tự do khinh bạc tung hoành xuất thế của Đạo giáo. Nhưng dù biện giải theo quan điểm tôn giáo của mình như thế nào, giữa Đạo giáo và Phật giáo , thì Cửu Huyền Thất Tổ cũng vẫn là một tổ hợp từ điểm chỉ các thế hệ tổ tiên ông bà đã chết trong quá khứ của mình.

Rất khác với quan điểm thờ cúng của Nho gia hay Nho giáo: thờ cúng theo dòng , theo chi, theo nhánh và tại từng dòng , từng chi, từng nhánh này lại chỉ thờ cúng tới 5 đời tổ so với bản thân mình; khi tổ thứ 5 trở thành thứ 6 theo thời gian thì không trực tiếp thờ cúng nữa.(ngũ thế tắc thiên hay đoạn ngũ đại). Chẳng những vậy, họ chỉ tập chú thờ cúng các Tổ Ông ; cố tình phân biệt , bỏ rơi hoặc xem khinh phân nửa tổ còn lại , ấy là các Tổ Bà. Phản ánh rất rõ tư duy phong kiến: vừa tôn ti thứ bậc thân sơ dựa trên quan hệ quyền lực sở hữu và lợi ích truyền thừa sản nghiệp là chính lại vừa ẩn chứa thường trực xu hướng cát cứ phân rẽ nơi họ: không có yếu tố bình đẳng cận mật gì với nhau trong bản chất của sự quan hệ.

Trong khi đó, Cửu Huyền Thất Tổ là một khái niệm thờ cúng mang tính “đồng nguyên” tuyệt đối trong tình cảm lẫn trong tư duy. Phản ánh tính chất duy nhân bản và hòa thân , phóng khoáng trong quan điểm triết lý sống đời của những ai theo loại tín ngưỡng thờ cúng này,dù sắc thái lễ nghi biểu hiện ra sao…

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close
Vui lòng hỗ trợ trang web
Hãy ấn vào Theo dõi để xem các bài viết hay nhất