Người dân Nam bộ, hầu như ai cũng từng nghe qua câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai/Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Không chỉ địa danh Nhà Bè, mà cả chùa Chúc Thọ ở Cù Lao Phố (Biên Hòa) đều gắn với những giai thoại về ông Thủ Huồng.

Ở vùng đất Biên Hòa, Đồng Nai, cầu Thủ Huồng (nay không còn), rạch Thủ Huồng, đều là những công trình ghi dấu tên người có công dựng nên.

Ngày xưa, tại vùng Gia Định có một người tên Võ Hữu Hoằng giữ chức thư lại trong nha môn. Tên ông vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Trong 20 năm làm việc nha môn, ông đã thâu tóm được nhiều tiền của. Vợ ông chẳng may qua đời sớm, gia đình lại không con mà tiền bạc vô cùng thừa thãi, Thủ Huồng cáo quan về vui thú điền viên.

Tình cảm ông Thủ Huồng dành cho vợ rất sâu sắc, nên khi có người mách ông rằng chợ Mãnh Ma, Quảng Yên, ở phía Bắc là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm gặp vợ.

Tiếng đồn quả không sai, ông Võ tìm đến chợ và gặp được người vợ. Hai bên hàn huyên hồi lâu, khi chuyện trò đã nhạt, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi, người vợ liền đồng ý.

Ở cõi âm, ông tận mắt chứng kiến đủ loại cực hình dành cho người nào phạm nhiều tội ác lúc sinh thời. Hãy còn kinh sợ, ông chợt nhìn thấy một cái gông đặc biệt, vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt nhưng vẫn còn để không, Thủ Huồng bèn hỏi người cai ngục: “Gông này để làm gì?”.

Thủ Huồng sau khi chứng kiến cảnh ở âm gian, về nhà chăm chỉ bố thí, giúp đỡ dân ngèo.

Người cai ngục đáp: “Để chờ một kẻ gian ác bậc nhất là Võ Hữu Hoằng, hiện đang sống tại huyện Phước Chính, tỉnh Gia Định, nước Đại Nam. Năm Ất Sửu, hắn sửa hai chữ ‘ngộ sát’ thành ‘cố sát’ làm cho mẹ con Thị Nhãn bị kết án tử, giúp người anh họ chiếm đoạt gia tài. Nhờ việc này Thủ Huồng được mười nén vàng, mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng trong năm đó hắn làm ông Ngô Lại ở thôn Bình Ca bị 2 năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, đoạt không của ông ta 12 mẫu ruộng”.

Thủ Huồng nghe xong thì sợ tái mặt, không ngờ nhất nhất từng việc, từ nhỏ đến lớn của mình trên thế gian thì dưới địa phủ đều rõ mồn một. Thủ Huồng rụng rời chân tay, nhưng vẫn cố hỏi sang chuyện khác: “Thế vợ hắn có bị đeo gông không ông?”. Cai ngục đáp: “Ồ, ai làm người nấy chịu. Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi”.

Thủ Huồng lại lắp bắp hỏi: “Vậy ông ta phải làm gì để khi chết xuống đây không bị đeo gông?”.

Cai ngục đáp: “Phải đem hết những của cải bất nghĩa ấy bố thí đi. May ra sẽ được giảm tội”.

Thủ Huồng đem toàn bộ câu chuyện nói lại với vợ, vợ ông cũng khuyên, khi trở về dương gian nên làm việc thiện để chuộc lại mọi lỗi lầm ngày trước. Thủ Huồng chia tay vợ và hẹn 3 năm sau gặp lại ở chợ Mãnh Ma.

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo tránh triều cường ở ngã ba sông.

Ba năm sau, Thủ Huồng lại được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, lúc này thấy cái gông trước kia đã nhỏ lại rất nhiều. Khi trở về dương gian, lần này ông quyết tâm bán tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà cửa rồi đi đến Biên Hòa, dựng chùa lớn cúng bái Phật. Theo đó, ông lại xuôi sông Đồng Nai để làm những việc nhân nghĩa cuối cùng.

Ngày nay, ở cù lao Phố, tỉnh Đồng Nai còn có một ngôi chùa, tương truyền do Thủ Huồng lập nên và mang tên chùa Thủ Huồng. Con rạch chạy ngang qua đường Tân Vạn vòng qua quốc lộ 1, do chính Thủ Huồng vét nên gọi rạch Thủ Huồng. Chiếc cầu đá trên đường gần sông Đồng Nai đi Tân Vạn cũng gọi cầu Thủ Huồng, vì chính ông là người cho bắc cầu.

Về việc tạo dựng nên Nhà Bè, sách Gia Định thành thông chí chép:

Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến nay vẫn còn.

Dân gian còn truyền lại rằng, sau có ông vua nhà Thanh tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định. Số là khi mới sanh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Nam Việt, Gia Định, Thủ Hoằng”.

Khi sứ tâu lại mọi chuyện, Nhà vua mới gửi cúng chùa Thủ Huồng một bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương, hiện tượng Phật này vẫn còn ở ngôi chùa Chúc Thọ (tên cũ là chùa Thủ Huồng) tại ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa.

3 pho tượng Phật hiện vẫn còn tại chùa Thủ Huồng ở Cù lao Phố.

Do việc này, mà có người bảo rằng: Nhờ thành thật hối lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu tan cái gông đang chờ ông ở cõi âm, mà còn được đi đầu thai làm vua ở Trung Quốc.

Nhà giáo Nguyễn Tài Năng ở Phong Dinh (nay là Cần Thơ), trước 1975, có thơ rằng:

Luân hồi nhân quả trả vay luôn,
Đáng kể làm gương có Thủ Huồng.
Cho nợ nhiều lời, Diêm chúa giận,
Hốt tiền kém nghĩa, thế nhân buồn.
Bắc cầu, sửa lộ, ơn ngàn ức,
Vét rạch, xây chùa, đức vạn muôn.
Còn có Đạo Quang, Tam-Thế-Phật,
Làm giàu chánh đáng, mới vuông tròn.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close
Vui lòng hỗ trợ trang web
Hãy ấn vào Theo dõi để xem các bài viết hay nhất