Bài vị là một cái thẻ làm bằng gỗ hay bằng giấy (thường là làm bằng gỗ như gỗ táo, gỗ bạch đàn, gỗ mít, trong đó, ngày nay, gỗ mít được dùng phổ biến hơn cả) dùng để đề tên người đã khuất tương đồng như di ảnh,  bài vị còn được gọi là thần chủ.

Đối với các chủ nhà là trưởng họ, trưởng chi thì thần chủ của họ và của chi không bao giờ thay đổi. Còn thần chủ của gia từ có sự thay đổi theo phong tục “Ngũ đại mai thần chủ”, nghĩa là trên bàn thờ bao giờ cũng chỉ có bốn bài vị ghi bốn thần chủ theo thứ bậc là cao, tằng, tổ, khảo tức kị, cụ, ông, cha; cứ đến đời sau thì ông tứ đại thành ông ngũ đại nên đốt thần chủ ông ngũ đại đi (hoặc thiên di vào nhà thờ họ tộc để thờ chung) rồi nhắc lần lượt lên.

Bài vị thường được đặt trên ngai hoặc trong khám. Phía trên của bài vị là một ván gỗ kết hình lá sòi hoặc hình tròn, bổ sung bằng cách viền ngoài mép là những vây răng cưa (kiểu vây rồng), mặt thân có nhiều lớp trang trí bổ dọc, cân xứng hai bên, ôm lấy một mặt phẳng chính, hình chữ nhật dài, ở giữa để ghi chữ như kiểu câu đối.

Kích thước bài vị được chọn theo số đẹp trên thước Lỗ Ban và tỉ lệ cân đối như:

+ Cao 38cm cung tốt (Tài chí, Tiến bảo) – Rộng 17cm cung tốt (Thêm đinh, Tài vượng);

+ Cao 41cm cung tốt (Tiến bao, Thêm đinh) – Rộng 18cm cung tốt (Lợi ích);

+ Cao 61cm cung tốt (Lợi ích, Tài lộc) – Rộng 21cm cung tốt (Đại cát, Tiến bảo);…

Số chữ viết trên bài vị phải chia hết cho 4, hoặc chia cho 4 còn dư 3 (không được dư 1 hoặc dư 2) theo cách đếm tuần tự 4 chữ: Quỷ – Khốc – Linh – Thính; nếu là người nam thì phải vào chữ Linh (dư 3), người nữ phải vào chữ Thính (chia hết) là được.

Nội dung ghi trên bài vị (viết bằng chữ Hán Nôm chiều dọc từ trên xuống, từ phải qua trái):

+ Hàng chính giữa nêu: Vai vế của người được làm bài vị (như cha = hiền khảo; mẹ = hiền tỷ, ông nội = tổ khảo, bà nội = tổ tỷ; cụ ông = tằng tổ khảo, cụ bà = tằng tổ tỷ, kỵ = cao tổ khảo); tiếp đến là tước vị (nếu có); sau đó là tên (gồm tên húy = tên chính, tên tự, tên hiệu, tên thụy … nếu có). Nếu là bài vị mẹ hoặc bà thì ghi theo tước vị của cha, ông; sau đó ghi họ của ông + nguyên phối (hoặc thứ thất, kế thất, trắc thất…) phu nhân.

+ Hàng bên trái (từ trong nhìn ra) ghi ngày, tháng, năm sinh.

+ Hàng bên phải (từ trong nhìn ra) ghi ngày, tháng, năm mất.

+ Cuối cùng là 3 chữ “chi Linh vị”, cũng có khi ghi “Thần chủ” hoặc “Linh vị”./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *